chú ý không chủ định phụ thuộc nhiều nhất vào
#chiensungaukraine #ngaukraine #dambaoanninhukraine SKĐS | Giới chức Nga đã nhiều lần tuyên bố, việc Ukraine có được đảm bảo an ninh hay không phụ thuộc vào
Câu nói có ý nghĩa tương lai của mỗi người phụ thuộc vào nhiều yếu tố xung quanh như gia đình, bạn bè, xã hội… đó là những yếu tố khách quan có ảnh hưởng, tác động đến tương lai của mỗi người, nhưng chủ yếu vẫn phụ thuộc vào bản thân, tức là yếu tố chủ quan.
Đáp án đúng C. Điện dung của tụ điện không phụ thuộc vào bản chất của hai bản tụ điện, tụ điện được dùng phổ biến là tụ điện phẳng, cấu tạo của tụ điện phẳng gồm hai bản kim loại phẳng đặt song song với nhau và ngăn cách nhau bằng một lớp điện môi.
Chú ý có chủ định phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố nào dưới đây? A. Độ mới lạ của vật kích thích. B. Cường độ của vật kích thích. C. Sự trái ngược giữa sự vật và bối cảnh xung quanh. D. Ý thức, xu hướng và tình cảm cá nhân. Hướng dẫn. Chọn D là đáp án đúng
Bạn cần lưu ý những gì khi sử dụng dịch vụ TikiPro? Trường THCS Nghĩa Phúc Send an email 9 giờ ago. 0
Những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Theo quy định tại Điều 624 Bộ luật dân sự 2015: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Pháp luật tôn trọng quyền của người lập di chúc trong việc
ringestgunska1986. MỤC LỤC MỞ ĐẦU..............................................................................................................1 NỘI DUNG...........................................................................................................1 I, Khái niệm chung về chú ý...........................................................................2 1. Định nghĩa................................................................................................2 2. Vai trò.......................................................................................................2 3. Các thuộc tính của chú ý.........................................................................2 II, Phân loại chú ý...........................................................................................3 Căn cứ vào tính tích cực của con người trong việc tổ chức chú ý có thể chia chú ý làm ba loại chú ý không chủ định, chú ý có chủ định, chú ý sau chủ định....................................................................................................................3 1. Chú ý không chủ định..............................................................................3 2. Chú ý có chủ định....................................................................................4 3. Chú ý sau chủ định..................................................................................6 Tuy nhiên, căn cứ vào đối tượng mà chú ý hướng tới ta có thể phân chia chú ý thành Chú ý bên trong và chú ý bên ngoài....................................8 Chú ý bên ngoài........................................................................................8 Chú ý bên trong.........................................................................................9 KẾT LUẬN...........................................................................................................9 0 MỞ ĐẦU Trong các hiện tượng tâm lý, chú ý là một hiện tượng tâm lý quan trọng, nó không phải là một quá trình độc lập, cũng không phải là một thuộc tính tâm lý của cá nhân. Chú ý là hiện tượng tâm lý độc đáo luôn xuất hiện kèm theo hoạt động, cũng như luôn có mặt trong các quá trình nhận thức của cá nhân, làm cho chúng diễn ra với những sắc thái khác nhau. Vì thế chú ý là một biểu hiện đặc trưng của trạng thái tâm lý. Để nhận thức sâu sắc về vấn đề này nhóm em xin đi nghiên cứu đề tài “ Trình bày khái niệm chú ý, các đặc điểm đặc trưng, ưu thế hạn chế của các loại chú ý”. NỘI DUNG I, Khái niệm chung về chú ý 1. Định nghĩa Chú ý là sự tập trung của hoạt động tâm lý vào một hoặc một số đối tượng nào đó, nhằm phản ánh chúng một cách đầy đủ, rõ ràng nhất. 2. Vai trò Chú ý giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Chú ý là điều kiện để hoạt động nhận thức diễn ra dưới các cấp độ khác nhau. Chú ý giúp ta tiếp cận, nắm bắt được đối tượng và làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức. Khi đánh giá vai trò của chú ý, nhà khoa học người Nga cho rằng, chú ý chính là cánh cửa mà mọi sự vật của thế giới xung quanh muốn đi vào được tâm hồn mỗi con người, đều phải đi qua. Đồng thời trong hoạt động thực tiễn, sự chú ý đến các thuộc tính căn bản nhất của sự vật, hiện tượng giúp ta cân nhắc đến các thuộc tính ấy một cách tốt nhất. Qua đó, tổ chức hoạt động thực tiễn phù hợp với đặc điểm của hoàn cảnh và nhiệm vụ đề ra trước mỗi con người. Ngoài ra chú ý còn thể hiện gián tiếp 1 các đặc điểm tâm lý của mỗi cá nhân như nhu cầu, hứng thú...Vì thế thông qua chú ý, con người còn tự thể hiện, tự bộc lộ bản thân mình. Đặc biệt, trong hoạt động tư pháp, chú ý có vai trò quan trọng. Chú ý ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công việc mà người cán bộ tư pháp tiến hành. Chú ý giúp cán bộ tư pháp tập trung nhận thưc của mình lên các tình tiết, các thông tin cần thiết, đảm bảo được tính khách quan, đúng đắn của hoạt động nhận thức. Trong hoạt động tố tụng hình sự và tố tụng dân sự, nếu người cán bộ tư pháp biết định hướng chú ý của các chủ thể tham gia tố tụng một cách hợp lý sẽ giúp cho việc đánh giá tính đúng đắn trong lời khai của họ, đảm bảo cho việc thu thập và làm sáng tỏ các thông tin cần thiết. 3. Các thuộc tính của chú ý - Khối lượng chú ý được đo bằng số lượng đối tượng mà chú ý có thể hướng tới trong một khoảng thời gian rất ngắn. - Phân phối chú ý là năng lực chú ý đồng thời hướng tới một số đối tượng. - Tập trung chú ý là việc con người hướng tới hoạt động tâm lý, tập trung cao độ vào một số đối tượng cần thiết của hành động. - Sự bền vững của chú ý Độ bền vững của chú ý được thể hiện ở khả năng duy trì lâu dài chú ý tới một hoặc một số đối tượng. - Sự di chuyển chú ý là sự dịch chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác một cách có chủ định. II, Phân loại chú ý Căn cứ vào tính tích cực của con người trong việc tổ chức chú ý có thể chia chú ý làm ba loại chú ý không chủ định, chú ý có chủ định, chú ý sau chủ định. 1. Chú ý không chủ định Khái niệm Là sự tập trung ý thức lên một đối tượng nhất định khi có sự tác động kích thích của đối tượng đó. Như vậy, chú ý không chủ định là trạng thái chú ý không định trước , không theo một kế hoạch và mục đích nào cả. 2 Ví dụ, anh A đến cửa hàng với ý định mua hàng hóa B,vô tình nhìn thấy hàng hóa C, cảm thấy hàng đó hay hay, liền chú ý tới hàng hóa C, như thế chú ý của anh A là chú ý không có chủ định. Đặc điểm Chú ý không chủ định có thể xuất hiện phụ thuộc vào những đặc điểm sau đây của kích thích - Tính chất mới mẻ, sinh động bất thường - Cường độ của kích thích theo quy luật về cường độ đối với thần kinh, thì kích thích càng mạnh hưng phấn do nó gây nên càng lớn. Do vậy dễ tạo ra chú ý không chủ định nhưng nếu kích thích quá mạnh sẽ gây ra phản ứng đau - Độ hấp dẫn của vật kích thích là một điểm tổng hợp của hai đặc điểm trên, thể hiện ở mức độ phù hợp với người bị tác động, dễ gây “tò mò” ở người đó. - Sự bắt đầu hoặc kết thúc một kích thích Ưu thế - Làm cho hiểu biết của con người phong phú, đa dạng. - Tế bào thần kinh lúc thì căng thẳng, lúc thì thoải mái, nhẹ nhõm, do đó khó xảy ra tình trạng mệt nhọc về tâm lý, cũng khó bị ức chế tức là tiêu hao ít năng lượng thần kinh con người ít bị mệt mỏi. Hạn chế - Về tính bền vững do không có sự nỗ lực của ý chí nên thời gian ngắn và dễ thay đổi. - Về tính mục đích, chú ý không chủ định không có mục đích sẵn từ trước nên tính tự giác kém. - Dễ bị phân tâm, không thể định hướng hoạt động tâm lý vào sự vật cụ thể nào, khó làm tốt công việc. - Bị tính chất và cường độ kích thích của vật kích thích chi phối. 2. Chú ý có chủ định Khái niệm Chú ý có chủ định là sự điều chỉnh một cách có ý thức sự tập trung lên một đối tượng nào đó nhằm thỏa mãn những yêu cầu của hoạt động. 3 Đặc điểm đặc trưng Chú ý có chủ định là loại chú ý cao hơn chú ý không chủ định. Chú ý không chủ định chỉ là sự bột phát ngẫu nhiên dưới tác động kích thích của các yếu tố kích thích mà thôi, nhưng chú ý có chủ định là loại chú ý thể hiện được ý chí, nhận thức của chủ thể chú ý. Chú ý có chủ định có những đặc trưng sau đây Đặc điểm thứ nhất của chú ý có chủ định là tính mục đích, đây là đặc điểm nổi bật của chú ý có chủ định. Để tham gia vào hoạt động, con người luôn luôn phải có những động cơ thúc đẩy, ví dụ việc một người học nhiều môn ngoại ngữ, tham gia vào hoạt động học ngoại ngữ, người đó được thỏa mãn nhu cầu hứng thú với nhiều ngoại ngữ của mình, đó là động cơ thúc đẩy cá nhân tham gia vào hoạt động. Con người luôn đặt ra những đích cần phải thực hiện khi tham gia vào hoạt động, bản thân xác định được mục đích hành động sẽ gạt bỏ những yếu tố tác động không quan trong bên lề mà chỉ tập trung vào đối tượng nhằm đạt được mục đích mà thôi, không phụ thuộc vào đối tượng mới lạ hay quen thuộc, có cường độ kích thích mạnh hay yếu, hấp dẫn hay không hấp dẫn. Tính mục đích giúp con người luôn luôn nhận định đúng vấn đề, tránh sai lạc, đảm bảo sẽ đạt được mục tiêu ban đầu, đó là “kim chỉ nam” của mọi hoạt động. Đặc điểm thứ hai, chú ý có chủ định là sự nỗ lực của ý chí. Con người là động vật cao cấp nhất, ở con người tồn tại nhận thức và tư duy, chú ý có chủ định đã thể hiện điều này rất rõ. Không phải lúc nào đối tượng tác động cũng gây được chú ý, bên cạnh đó không phải chú ý nào cũng tồn tại lâu dài. Nhờ có sự nỗ lực ý chí mà ta duy trì được sự tập trung chú ý trong một thời gian dài ví dụ, nhiều khi ngồi trong lớp học ta cảm thấy rất chán nản nhưng ta đã nhận thức được việc mình phỉa ngồi trong lớp học, cố gắng nghe giảng. Như vậy nhờ có sự nỗ lực ý chí mà ta duy trì được sự tập trung chú ý trong một thời gian dài mà không bị phân tán. Bên cạnh đó sự nỗ lực ý chí gây nên một trạng thái căng thẳng, một sự tập trung sức lực để giải quyết nhiệm vụ đã đặt ra. 4 Đặc điểm thứ ba, trong chú ý có chủ định có sự sắp xếp tổ chức trình tự của chú ý trong hoạt động, nó thể hiện ở tính tổ chức của chú chú ý không chủ định hoạt động chú ý xẩy đển hoàn toàn ngẫu nhiên, chủ thể khôngg có sự chuẩn bị. Trong chú ý có chủ định, chủ thể biết trước mình sẽ chú ý vào đối tượng nào và đã có sự chuẩn bị trong tư duy. Ví dụ khi học bài, học sinh biết là mình phải làm những bài tập gì, phải lảm phần nào trước theo từng trình tự nhất định dù có thích môn đó hay không. Ưu thế và hạn chế của chú ý có chủ định Ưu thế của chú ý có chủ định xuất phát ngay từ những đặc điểm đặc trưng của nó. - Hoạt động chú ý đã có mục đích cụ thể, không ngẫu nhiên như chú ý không chủ định. Trong mỗi hoạt động, cái tiền đề đầu tiên là vô cùng quan trọng, nó đánh dấu sự khởi đầu, động cơ chính là cái đầu tiên thúc đẩy con người hành động, mục đích chính cái mà người ta muốn đạt được,cái con người hình dung về kết quả, đó là sự “động viên” để mỗi người nỗ lực hoạt động. Hơn nữa, chính việc xác định được mục đích hành động sẽ tạo nên một áp lực buộc phải hành động, thúc ép chủ thể phải tiến hành hoạt động, hoàn thành mục tiêu. - Sự sắp xếp tổ chức trình tự của chú ý trong hoạt động sẽ tạo điều kiện cho hoạt động nhận thức có hiệu quả hơn. Một khi có sự sắp xếp, ta sẽ điều chỉnh được sự hợp lí của thứ tự các hành động, phát huy được hiệu quả nhận thức. Hạn chế của chú ý có chủ định là Chú ý có chủ định thường là loại chú ý mà chủ thể không có sự hứng thú lắm với đối tuợng thậm trí trong nhiều trường hợp là chán nản, uể oải trước sự tác động của đối tượng. Khi đó cần có sự nỗ lực của bản thân, đôi khi sự nỗ lực đó chỉ đạt được bên ngoài mà không đạt được thực chất bên trong. Ví dụ khi ngồi trong lớp học, sinh viên thể hiện sự uể oải, không tập trung vào bài học, khi có sự nhắc nhở của giáo viên đã tập trung vào bài giảng hơn nhưng suy nghĩ vẫn không tập trung vào bài giảng do đó không hiểu bài. 5 3. Chú ý sau chủ định khái niệm Chú ý sau chủ định là sự tập trung ý thức tới một đối tượng mà đối tượng đó có ý nghĩa nhất định đối vói cá nhân. đặc điểm Chú ý sau chủ định xuất hiện sau khi đã hình thành chú ý có chủ định. Ở chú ý sau chủ định , đối tượng mà chú ý hướng tới gây nên cho cá nhân những hứng thú đặc biệt. Do vậy, chú ý được duy trì không cần có sự tham gia của ý thế, nó không gây nên trạng thái căng thẳng trong tâm lý cá nhân. Chẳng hạn, học sinh có thẻ bắt đầu giải toán mà không có một chút hứng thú nào hết. Khi ấy, học sinh phải có sự nỗ lực ý chí để có thể tập trung vào việc giải bài toán. Trong thời gian làm bài, xuất hiện những nguyên nhân nào dụ do hứng thú, do sự tự khẳng định “bằng bất cứ giá nào cũng phải làm được”…làm cho sự tham gia của chú ý trong việc duy trì chú ý là không cần thiết nữa. Lúc này học sinh hoàn toàn bị cuốn hút vào việc giải toán. Như vậy, ở học sinh đã xuất hiện chú ý sau chủ định. Trong hoạt động tư pháp, các loại chú ý nói trên có mối quan hệ nhất định với nhau. Những yếu tố khách quan chủ yếu sẽ làm xuất hiện chú ý không có chủ định. Tiếp đến, sự tham gia của các yếu tố chủ quan sẽ làm hình thành ở người cán bộ tư pháp chú ý có chủ định, định hướng hoạt động tâm lý của quá trình hoạt động, mức độ căng thẳng của chú ý thay đổi có thể dẫn đến một thời điểm chú ý được duy trì mà không cần có sự nỗ lực của ý chí . Lúc này, loại chú ý cao cấp nhất, bền vững nhất được hình thành, đó là chú ý sau chủ định. Ưu điểm Có thể thấy ưu điểm của chú ý sau chủ định là đây là chú ý thuộc loại cao cấp nhất, có hiệu quả nhất đối với hoạt động nhận thức của con người. Chú ý sau chủ định thường là loại chú ý có độ tập trung cao nhất. Chủ thể nhận thức có ý định về một đề tài, mới đầu chỉ là phác thảo , phác họa ý tưởng. Từ phác thảo phác họa ấy, đi đến thành lời nói biểu đạt, biểu hiện ra, theo đó mà hành động. 6 Sau khi hành động, ta lại hồi tưởng ôn nhớ lại. Đó là tất yếu của một tiến trình, đi từ ý tưởng trở thành hiện ý có sau tiến trình này là sự chú ý có tập trung, đúc kết, để lại kinh nghiệm về những hậu quả, thành quả hiến nhiên mà chủ thể đã có. Cho nên chú ý có sau này, tức là chú ý có sau “chủ định” mang tính hiệu quả nhất trong hoạt động nhận thức của con người, cộng đồng và nhân loại. Hay nói cách khác, từ ý định chủ quan biến thành hiện thực khách quan, tức điều mà người khác, mọi khách thể đều công nhận. Bên cạnh đó, chú ý sau chủ định giúp lựa chọn những hình ảnh của bên ngoài có ý nghĩa, phù hợp với nhu cầu hoạt động, tránh và ức chế đối với những ảnh hưởng không thống nhất với hoạt động trước mắt, làm phân tán sự chú ý. Chú ý sau chủ định lưu trữ hình ảnh hoặc nội dung của đối tượng chú ý trong ý thức chủ thể cho tới khi đạt mục đích mới thôi. Chú ý sau chủ định làm nhiệm vụ điều tiết và giám sát hoạt đọng, cùng một lúc phân phối sự chú ý vào các sự vật khác nhau. Có người hay lỡ mồm, lỡ miệng, lỡ chân tay, qua loa đại khái, lơ đãng, điều đó do chức năng giám sát tâm lý không được tốt. Có thể lấy một ví dụ để làm rõ về chú ý sau chủ định như sau khi giáo viên yêu cầu sinh viên lên thư viện đọc tài liệu tham khảo để chuẩn bị cho bài học, sẽ có không ít các sinh viên với tư tưởng là không cần đọc hay đọc cho có hoặc thậm chí cho rằng việc đó không cần thiết đối với bản thân. Nhưng những sinh viên lên thư viện tức là đã xác định sẽ đọc hay tìm hiểu một cái gì đó cho dù là tự nguyện hay thuộc về trường hợp bắt buộc. Tuy vậy thì các trường hợp này cũng đã phải xác định cho mình mục đích để lên thư viện và do đó có kế hoạch để đọc chú ý có chủ định , nhưng khi đọc các sinh viên lại thấy vấn đề mà mình đang tìm hiểu rất thú vị, hấp dẫn, cung cấp nhiều tri thức không những phục vụ cho việc học mà còn trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống do đó sinh viên đó đọc một mạch xong lúc nào không hay chú ý không chủ định. Từ đó có thể thấy trong trường hợp này việc "cố gắng" chú ý vào việc đọc tài liệu ban đầu không còn cần thiết nữa, thay vào đó chính là sự thích thú, đam mê, hoàn toàn bị cuốn hút vào công việc mà bản thân đang 7 làm. Đó chính là sự chuyển hoá giữa hai loại chú ý chú ý có chủ định lúc đầu, trở thành chú ý không chủ định về sau còn gọi là chú ý sau chủ định. Tuy nhiên, căn cứ vào đối tượng mà chú ý hướng tới ta có thể phân chia chú ý thành Chú ý bên trong và chú ý bên ngoài. Chú ý bên ngoài Là loại chú ý hướng vào các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan. Loại chú ý này đòi hỏi phải sử dụng các giác quan thị giác, thính giác…. Các yếu tố gây nên chú ý bên ngoài bao gồm các kích thích sau + Các kích thích có cường độ mạnh như âm thanh mạnh, ánh sáng chói, mùi khó chịu …Các kích thích này luôn gây được sự chú ý + Các kích thích có sự mới lạ cũng gây nên sự chú ý. Sự mới lạ này có thể ở toàn bộ kích thích, có thể ở một phần của kích thích, hoặc ở sự không bình thường của nó. + Đặc biệt, trật tự sắp xếp, cấu tạo của kích thích có thể ảnh hưởng tích cực lên chú ý của con người. Đây là yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn của hoạt động tư pháp. Người cán bộ tư pháp phải lưu ý đến yếu tố này mà sắp xếp thông tin cho hợp lý, tạo điều kiện tốt nhất cho việc nhận thức vụ án. Chú ý bên trong Là loại chú ý gắn liền với ý thức của cá nhân đối với hành động của mình, đối với thế giới nội tâm và với ý thức bản ngã của cá nhân. Đối tượng của chú ý bên trong là những cảm xúc, những hồi tưởng, những suy tư… của cá nhân. Chú ý bên trong chỉ có ở con người do động vật không có ý thức đối với cuộc sống nội tâm của chúng. Chú ý bên trong và chú ý bên ngoài có mối quan hệ chặt chẽ và thường đi đôi với nhau. Điều đó dễ hiểu vì khi chú ý làm một việc gì con người thường kết hợp nhận cảm tính, hành động, suy nghĩ, tư duy, có lúc đem hết tình cảm và lòng tin vào việc mình đang làm. 8 Tuy nhiên, cũng có những việc, những lúc mà chú ý bên ngoài và chú ý bên trong hoàn toàn độc lập với nhau. Có những công việc chỉ đòi hỏi sự tập trung chú ý bên ngoài mà không cần chú ý bên trong. Ngược lại, cũng có những việc mà con người phải sử dụng chú ý bên trong là chủ yếu. Lúc này chú ý bên ngoài và chú ý bên trong luôn kìm hãm nhau. KẾT LUẬN Tóm lại, chú ý là hiện tượng tâm lý độc đáo, nó luôn xuất hiện kèm theo các hoạt động thực tiễn, cũng như luôn có mặt trong các quá trình nhận thức của mỗi cá nhân. Vì thế, chú ý là một biểu hiện đặc trưng của cá nhân trong hoạt động sống. Đối với những người hoạt động trong nghề luật nói chung, và với những người cán bộ tiến hành tố tụng nói riêng, chú ý có một vai trò quan trọng. Chú ý được hình thành trong quá trình hoạt động của họ, và trở thành một phẩm chất nghề nghiệp không thể thiếu cho những người hoạt động trong nghề luật. 9
Trang chủ Hướng Nghiệp Xã hội nhân văn ADMICRO A. Đặc điểm vật kích thích. B. Xu hướng cá nhân. C. Mục đích hoạt động. D. Tình cảm của cá nhân. Hãy suy nghĩ và trả lời câu hỏi trước khi xem đáp án ANYMIND360 / 1 Câu hỏi này thuộc ngân hàng trắc nghiệm dưới đây, bấm vào Xem chi tiết để làm toàn bài ZUNIA12 ZUNIA9 ADMICRO TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chú ý có chủ định phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố nào dưới đây? A. Độ mới lạ của vật kích thích. B. Cường độ của vật kích thích. C. Sự trái ngược giữa sự vật và bối cảnh xung quanh. D. Ý thức, xu hướng và tình cảm cá nhân. Chọn D là đáp án đúng
So sánh chú ý không chủ định và chú ý có chủ địnhĐề bài số 1 So sánh chú ý không chủ định và chú ý có chủ định. Từ đó, chỉ ra đượccác điều kiện ảnh hưởng đến sự chú ĐẦUTrong các hiện tượng tâm lí, chú ý là một hiện tượng tâm lý độc đáo, nó không phảilà một quá trình tâm lý độc lập, cũng không phải là một thuộc tính cá nhân. Chú ý làmột hiện tượng tâm lý luôn xuất hiện kèm theo các hoạt động, cũng như luôn cómặt trong các quá trình nhận thức của cá nhân, làm cho chúng diễn ra với những sắcthái khác nhau. Vì thế, chú ý là một biểu hiện đặc trưng của trạng thái tâm DUNGI. Một số khái niệm về chú ý, chú ý không chủ định, chú ý có chủ Chú Định nghĩaChú ý là một hiện tượng tâm lí; là sự tập trung của hoạt động tâm lý vào một hoặcmột số đối tượng nào đó, nhằm phản ánh chúng một cách đầy đủ, rõ ràng nhất. Vídụ chú ý nghe thầy cô giáo giảng bài, chú ý điều khiển phương tiện tham gia giaothông đúng quy định.Chú ý luôn tồn tại có tình đối tượng và đối tượng của chú ý ở đây có thể là sự vật,hiện tượng của thế giới khách quan mà con người hướng sự nhận thức và hoạt độngđến; đối tượng của chú ý cũng có thể chính là hoạt động tâm lí của mỗi cá nhânnhư ý nghĩ, cảm xúc, sự tự phân tích đánh giá hoạt động và các hành vi, thao tác… Vai trò của chủ ýChú ý giữ một vai trò rất quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thựctiễn của con Chú ý là điều kiện để hoạt động nhận thức diễn ra dưới các cấp độ khác nhau. Chúý giúp ta tiếp cận, nắm bắt được đối tượng và làm tăng hiệu quả của hoạt động Sự chú ý đến các thuộc tính căn bản của sự vật, hiện tượng giúp ta cân nhắc đếncác thuộc tính ấy một cách tốt biệt trong hoạt động tư pháp, chú ý có vai trò quan trọng, như Chú ý ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng công việc mà người cán bộ tư pháp tiến hành, giúpngười cán bộ tư pháp tập trung nhận thức lên các tình tiết, thông tin cần thiết, quađó có được cái nhìn tổng thể, khách quan, đúng đắn về vấn đề cần giải quyết. Tronghoạt động tố tụng, khi người cán bộ tư pháp biết định hướng sự chú ý của các chủthể một cách phù hợp sẽ giúp cho việc đánh giá đúng đắn lời khai của họ, đảm bảođược tính chính xác trong các phán Các thuộc tính của chú ýChú ý được đặc trưng bởi các thuộc tính sau- Khối lượng chú ý- Phân phối chú ý- Tập trung chú ý- Sự bền vững của chú ý- Sự di chuyển của chú Phân loại chú ýCó nhiều cách để phân loại chú ý, nhưng chủ yếu ta phân loại chú ý dựa trên 2 căncứThứ nhất, căn cứ vào tính tích cực của con người trong việc tổ chức chú ý có thểchia thành 3 loại Chú ý không chủ định, Chú ý có chủ định và Chú ý sau chủ hai, căn cứ vào đối tượng mà chú ý hướng tới ta có thể phân chia chú ý thànhChú ý bên ngoài và chú ý bên Chú ý không chủ địnhChú ý không chủ định là sự tập trung ý thức lên một số đối tượng nhất định khi cósự tác động kích thích của đối tượng ý không chủ định là trạng thái chú ý không chủ định trước, không theo một kếhoạch, mục tiêu nào cả. Trạng thái chú ý được tạo nên do các nguyên nhân bênngoài gây nên, hoặc do các đặc điểm nào đó của đối tượng tác động vào con ngườiở tại một thời điểm nhất Chú ý có chủ địnhChú ý có chủ định là sự điều chỉnh một cách có ý thức sự tập trung lên một đốitượng nào đó nhằm thỏa mãn những yêu cầu của hoạt ý có chủ định có một số đặc điểm nổi bật như có tính mục đích, có sự nỗ lựccủa ý chí, có tính tổ chức của ý chí hay là có sự sắp xếp tổ chức trình tự của chú ýtrong hoạt So sánh chú ý không chủ định và chú ý có chủ định1. Sự giống nhau giữa Chú ý không chủ định và Chú ý có chủ định- Dù là chú ý không chủ định hay chú ý có chủ định thì chú ý cũng chỉ tập trung vàomột phần của môi trường và bỏ qua các kích thích khác đang xảy ra. Điều này cóthể hữu ích bởi nó cho phép ta tập trung hơn vào mục tiêu của mình nhưng bên cạnhđó cũng có thể có hại khi ta bỏ qua vài thông tin cần thiết mà ta nên chú Chú ý không chủ định và chú ý có chủ định gắn bó chặt chẽ với cảm xúc, hứng thúvà kinh nghiệm cá Sự khác nhau giữa Chú ý không chủ định và Chú ý có chủ địnhChú ý không chú định- Là loại chú ý không có mục đích đặt ra từ trước. Người ta thường gọi nó là chú ýthụ động vì nó nảy sinh không phụ thuộc vào ý thức của con người .1. Nguyên nhân thứ nhất làm nảy sinh chú ý không chủ định là những đặc điểm bênngoài của kích thích, như các kích thích có cường độ mạnh, mới lạ, có tính tươngphản, hấp dẫn, hợp sở dụ Ta có thể không để ý đến những tiếng động nhỏ trong phòng nhưng mộttiếng nổ mạnh sẽ thu hút sự chú ý của Nguyên nhân thứ hai làm nảy sinh chú ý không chủ định gắn với sự phù hợp giữakích thích bên ngoài và trạng thái bên trong, mà trước hết là nhu cầu của con ngườiVí dụ Người bị bỏ đói lâu ngày sẽ chú ý một cách không chủ định đến những gìliên quan đến thức ăn, dù chỉ là câu chuyện về thức ăn cũng làm anh ta chú Nguyên nhân thứ ba làm nảy sinh chú ý không chủ định liên quan tới định hướngchung và kinh nghiệm của nhân cách. Những gì ta quan tâm hơn cả, hiểu biết nhiềuhơn cả, gần gũi với công việc, nghề nghiệp thường lôi kéo sự chú ý của ta, ngay cảkhi ta chỉ gặp chúng một cách tình cờ, không đợi dụ Nhà kiến trúc sư chú ý đến vẻ đẹp của một ngôi nhà bất chợt nhìn thấy khiđang đi trên Chú ý không chủ định thường nhẹ nhàng, ít căng thẳng nhưng trong nhiều trườnghợp thường kém bền ý có chủ định- Là loại chú ý có mục đích định trước và phải có sự nỗ lực của ý chí. Vì vậy ngườita còn gọi loại chú ý này là chú ý tích cực. Loại chú ý này liên quan chặt chẽ với ýchí con người, là sản phẩm của hoạt động lao động có ý Chú ý có chủ định không có nguồn gốc sinh học mà có nguồn gốc xã hội. Nó liênquan chặt chẽ với ngôn ngữ và mục tiêu mà con người muốn hướng dụ Một sinh viên khi lên lớp tham gia vào hoạt động nghe giảng thì sự chú ýnghe giảng là chú ý có chủ định. Nó xuất phát từ mục đích muốn tiếp thu kiến Tuy chú ý có chủ định cũng gắn bó với cảm xúc, hứng thú và kinh nghiệm cánhân như chú ý không chủ định, nhưng những yếu tố này không ảnh hưởng trực tiếptới chú ý có chủ định, mà ảnh hưởng gián tiếp thông qua mục tiêu đặt ra một cáchcó ý thức của con người. Trong trường hợp này, hứng thú là hứng thú với mục tiêu,kết quả của hoạt động chứ không phải hứng thú với bản thân hoạt dụ Một bạn trẻ muốn học nhảy hiphop, bạn chủ ý tới các động tác nhảu hiphopmột cách có chủ định để có thể thực hiện được những bước nhảy đó. Và khi thựchiện được bạn cảm thấy vui vẻ, hứng thứ và càng có ý muốn học thêm nhiều bướcnhảy nữa. Sự hứng thú ở đây là hứng thú với kết quả là đã nhảy Chú ý có chủ định cần sự nỗ lực của thần kinh, căng thẳng hơn chú ý không chủđịnh và bền vững hơn chú ý không chủ Các điều kiện ảnh hường đến sự chú ýCác yếu tố ảnh hưởng đến sự chú ý gồm các yếu tố khách quan và các yếu tố yếu tố khách quan bao gồm- Cường độ kích thích của thế giới khách quan ví dụ nếu kích thích đủ mạnh sẽgây chú ý, nếu không đủ mạnh thì không gây chú ý của ta.- Tính đa dạng của kích thích và tính chất của các hoạt động, đối tượng của sự chú ýcần chứa đựng những nội dung mới mà con người có thể nghiên cứu và khám phára được ví dụ bức tranh có nhiều chi tiết sẽ thu hút sự chú ý của ta hơn bức tranhchỉ có sự phối hợp của một số màu- Sự phát triển bình thường của chú ý ví dụ hội chứng tăng động giảm chú ý.Các yếu tố chủ quan bao gồm- Sự tập trung của con người ví dụ khi ta tập trung cao độ vào việc giải bài tập sẽcó được sự chú ý vào bài tập cao hơn là khi ta bị phân tâm bởi những kích thích bênngoài như âm thanh, ánh sáng….- Sự hứng thú đối với đối tượng của chú ý ví dụ khi ta hứng thứ với một bộ phimhoặc một nhân vật trong bộ phim đó thì ta sẽ dành sự chú ý vào việc theo dõi bộphim hơn là khi xem một bộ phim mà ta không có hứng thú.KẾT LUẬNTóm lại, chú ý không chủ định và chú ý có chủ định có những nét riêng đặc trưngcho từng loại song giữa chúng cũng có những điểm tương đồng và có sự gắn bó, cómối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung, chuyển hóa cho nhau, giúp con người phảnánh tốt nhất đối tượng. Chú ý không chủ định và chú ý có chủ định đều cần thiếtcho hoạt động của con người vì mỗi loại đều có ưu điểm và hạn chế của nó. Chínhvì vậy, chúng ta cần có những hiểu biết nhất định về chú ý để có thể phát huy mộtcách hiệu quả nhất những ưu điểm cũng như khắc phục tới mức tối đa những hạnchế của từng loại chú ý nhằm đạt được hiệu quả cao trong công việc và trong cáchoạt động hàng ngày.
chú ý không chủ định phụ thuộc nhiều nhất vào